Thi Ca Tư Tưởng  Bùi Giáng
Nguyen Quang Thanh   biên soạn


LỜI KHÔNG TIẾNG


Một lời chẳng nghĩa là bao
Dẫu lời không tiếng lẽ nào không nghe
(Bui Giang)

Đám đông nhốn nháo bên kia đường. Họ gồm khoảng mươi người hiếu kỳ, và vài ba người trai tráng bặm trợn, đang hung hăng la hét ồn ào, chỉ chỏ sừng sộ vào một ông già lạ lùng đang đứng ở giữa.

Ông già mang một cặp kính trắng dày cộm, mái tóc bạc bù xù, vài lọn tóc dài nghiêng xuống vầng trán rộng. Có vẻ như ông già vừa bị hành hung. Tuy vậy, ông già không tỏ vẻ khiếp sợ đám đông hung dữ ấy. Ông vung tay múa chân, trợn trừng đôi mắt đen và sâu, nhìn thẳng vào đối thủ, lớn tiếng đáp trả liên tục bằng những lời lẽ có lẽ cũng cay độc không kém.

Mạnh ai nấy chửi, không ai cần nghe ai. Đôi bên đều hăng tiết bênh vực cho “lẽ phải” của mình, giống như mọi cuộc cãi vã thường thấy tại những bến xe đò đông đúc, hoặc tại những khu chợ búa ồn ào. Chỉ có điều khác ở đây là, đám đông thì đích thị chửi mắng thô lỗ ông già bằng tiếng Việt, còn ông già thì vi vu mắng chửi bằng tiếng Pháp, mà đối tượng ông gửi gắm không nhất thiết nhắm vào đám đông cụ thể mà ông đang đối diện.

Tôi tiến tới gần, ép chiếc xe đạp của mình sát vào đám đông. Nhìn thấy một vết bầm tím đỏ bất thường trên trán ông, tôi hốt hoảng y như nhìn thấy người huynh đệ quyến thuộc của mình bị nạn, tôi thảng thốt kêu lên:
- Anh Bùi Giáng!

Ông già ngước nhìn về phía người đang gọi tên ông. Trong chớp nhoáng, tôi cũng vừa nhìn thấy hồn mắt ông chớp nháy chuyển đổi, như thể ông vừa mới hoàn hồn trở về lại thực tại, sau một phen du hí cãi vã dại khôn ở một phương trời mơ hồ Đông Tây Kim Cổ nào đó. Nói cãi vã, nhưng thật ra, chắc là, ông chẳng định ý tranh biện cãi vã với ai. Vì có lẽ, đối với ông, còn có gì đâu để cãi vã, khi mà mọi lẽ đời xuôi ngược ỡm ờ đã được ông tự đặt mình vào những tình huống đối nghịch tương ứng khác nhau, và rồi, ông đã mổ xẻ quá đầy đủ qua những tác phẩm kiệt xuất của ông. Ông đã tự đối thoại, tự tranh biện, tự đặt tâm hồn và thân xác mình vào những vị trí và vai trò khác nhau của cõi đời hư thực, trụ vào những vị trí khác nhau, trụ vào những vị trí không vị trí, trụ vô sở trụ, để cười, để khóc, để suy tư, để chiêm nghiệm, để sáng tạo, một cõi sáng tạo vừa xa vừa gần với cõi xứ mà những thiên tài kim cổ thường hội ngộ.

Hình như không phải ông chỉ nói để cho người ở gần đây nghe, mà ông còn nói để cho người ở xa cũng nghe. Không phải ông chỉ nói để cho người hiện tại nghe, mà ông còn nói để cho tiền nhân và hậu bối cùng nghe. Không phải bây giờ mới nói, mà ông đã nói suốt cuộc bình sinh của mình. Không phải ông chỉ nói bằng lời thốt ra từ cửa miệng, mà ông còn nói bằng cả tâm huyết, bằng chính đời sống hằng ngày của ông, bằng cả một cuộc đời sáng tạo, với một sự nghiệp văn học đồ sộ, gồm khoảng bảy chục tác phẩm, nào thơ, nào văn, khảo luận văn học, khảo luận triết học, vân vân.

Nhìn ông hăng hái chửi mắng cãi vã giữa đám đông, người xa lạ với ông dễ tưởng rằng ông đang chửi mắng một cái gì đó, đang cãi vã với một đối thủ nào đó. Nhưng đối với người đã quen biết tính cách của ông, thì hiểu rằng, lời ông la hét giữa đường phố, chẳng ám chỉ cái gì giữa đường phố, cũng chẳng đả động gì tới danh dự của bất cứ ai ai giữa lễ hội phồn hoa đô thị hằng ngày. Có ai đó nếu có nghe được lời văn nhân, thì dù một lời hay nửa tiếng cũng có thể hiểu ra, còn những ai chẳng sẵn lòng nghe, thì cho dù vạn ngàn trang sách bày biện trước mặt cũng chẳng có một mảy may ý nghĩa. Trong rừng thơ phong phú của ông, tôi có nhớ mấy câu:

“Một lời chẳng nghĩa là bao
Dẫu lời không tiếng lẽ nào không nghe?”

Có lần tôi hỏi ông về ý nghĩa của nó, thì thay vì trả lời trực tiếp, ông bảo tôi hãy đọc cuốn “Tư Tưởng Hiện Đại”. Sau đó, tôi tìm lại trong Tư Tưởng Hiện Đại, thấy ngay trong bài tựa, ông viết:

“Tư tưởng hiện đại hay “tâm hồn hiện đại” cũng không xa tư tưởng ngày xưa là mấy. Những triết gia từ thiên cổ đã mở rộng tâm thức bao quát mọi chân trời. Có người đã lặng thinh. Có người nói thật nhiều. Có người nói thật nhiều để cuối cùng lặng thinh. Có người lao vào hải hồ hoạt động để khỏi nói. Và ngày nay, bàn tới tư tưởng hiện đại có lẽ ta chỉ nên vẽ vài nét đơn sơ, gợi lại vài hình ảnh cũ. Hoặc "tóm tắt" trong một lời. Lời gì? Có lẽ là lời lặng câm.”

Ông tách ra khỏi đám đông, bước về phía tôi. Cũng lúc ấy, một chị bán thuốc lá ven đường bước ra, đưa cho tôi một chai dầu xanh. Chị giúp tôi bôi dầu xanh lên vết bầm trên trán ông. Tôi nói cám ơn chị bán thuốc lá rồi bảo ông ngồi lên yên sau xe đạp. Tôi chở ông rời khỏi đám đông, chạy về hướng trung tâm Sài Gòn.

Trong lúc tôi cong lưng đạp xe, ông thong dong ngồi phía sau, lai rai đọc Truyện Kiều, “Đùng đùng gió giục mây vần, Một xe trong cõi hồng trần như bay” Thỉnh thoảng, ông múa may chỉ chỏ loạn xạ vào trời đất, mạnh bạo tới nỗi chiếc xe đạp mỏng manh của tôi mất cân bằng, chao qua đảo lại. Người đi đường nhìn chúng tôi bằng đủ loại ánh mắt chê bai.

Dọc đường đi, tôi không hỏi ông nguyên nhân xảy ra sự việc “ẩu đả” kia, và ông cũng chẳng đả động gì đến giấc “chiêm bao” vừa rồi. Cho đến khi chúng tôi cùng ngồi xuống tại một quán nước ven đường, ông chép tặng hai câu thơ này vào trong cuốn tập của tôi, nhắc lại giây phút mà tôi gặp ông lúc nãy gần dưới chân cầu Trương Minh Giảng Sài Gòn:

“Gặp nhau một lúc vô biên
Đủ đầy vô tận cõi miền gần xa.”

NGUYEN QUANG THANH
(2011)



Những hình ảnh về Bùi Giáng & Trịnh Công Sơn trên trang web này, chúng tôi sao chép từ các trang web bạn tìm kiếm được qua Google. Thành thật cám ơn các website bạn và các tác giả liên quan. Chúng tôi không có phương tiện để gởi lời cám ơn riêng biệt, mong được thông cảm.
N.Q.Thanh

PHẦN 1: KHỞI ĐỘNG

NÀNG THƠ ĐẸP

Khi thơ đẹp tới chin tầng
Thì Nàng Thơ bỗng sượng sần cả ra
Tha hồ thằng quỉ con ma
Tới gùn ghè gạ gẫm mà hóa điên
Thưa rằng đại thánh tề thiên
Nghìn xưa âu cũng chỉ điên ngần này
(Bùi Giáng, Nàng Thơ Đẹp)

Bài thơ trên, khi mới đọc qua lần đầu, nghe tưởng như là bài thơ vui. Nhưng thật ra là bài thơ buồn đứt ruột. Tuy buồn, nhưng nói theo giọng hài hước cho đỡ buồn. Thật vậy, thật vậy.

Ai đã gặp Bùi Giáng đôi lần, đều biết ông rất giản dị, không cầu kỳ trịnh trọng, lúc nào cũng sẵn sàng vui vẻ bông đùa, bỡn cợt. Không phải tính cách ấy chỉ xuất hiện trong đời sống giao tiếp hằng ngày không thôi, mà ngay cả trong đời sống sáng tác, ông cũng lắm khi pha trộn lộn lèo giọng hài hước tràn lan.

Dù ông không cố ý bông đùa cũng như không cố ý trịnh trọng, mà tự nhiên, mỗi lần nói ra cái sự thật trớ trêu như đùa, thì bên trong cái đùa giỡn nó vẫn hàm chứa những nhiều ý nghĩa có thật hơn đùa. Thí dụ, có lần Bùi Giáng tự nêu ra một vấn đề rất nghiêm trọng, nhưng thoạt nghe có vẻ xuề xòa thiếu nghiêm trang:
- Vì sao người ta thường thích thơ dở hơn thơ hay?

Rồi ông tự trả lời rất nghiêm trang, rốt ráo, dứt khoát, nhưng thoạt nghe có vẻ như bỡn cợt, bông đùa:
- Bởi vì thơ dở có vẻ hay hơn thơ hay.

Càng ngẫm nghĩ, và đối chiếu với sự thật, càng thấy câu trả lời ngắn gọn ấy mới xác đáng làm sao! Ông thanh thản bông đùa, tưởng như chỉ qua quẹt bên lề sự viêc, nhưng thật ra là đã thọc sâu vào lãnh đia của cõi văn nghệ trần gian bê bối tự ngàn xưa. Tại công viên thơ mộng đó, người ta thấy đông đảo những người làm dáng thông thái thường lui tới, trong số đó có những gương mặt mà ông thường đùa cợt ví von là trẻ sơ sinh “đầu chưa ráo máu”.

Một lần khác, muốn chọc ghẹo những kẻ háo danh cầu kỳ, thích màu mè lòe loẹt, thích phô trương học vị rùm beng, ông chỉ đơn sơ bỡn cợt một cách chính xác về tiểu sử của mình - một tiểu sử bình thường, chẳng có gì lớn lao quan trọng cả, y như bao tiểu sử khác:

Hỏi Bùi Giáng về tiểu sử của ông thì ông trả lời: ”Thi sĩ sinh ra như mọi người giữa cỏ cây ly kỳ, và chết đi giữa cỏ cây ly kỳ gay cấn”.

Lại một nơi khác, ông bất ngờ “tấn công” Đức Phật, người đáng kính bậc nhất, người mà chính ông biết rất rõ là đối tượng bất khả lay chuyển. Nói bất khả lay chuyển, vì, cho dù có chế diễu bao nhiêu, Phật cũng không hề hấn gì, cho dù có bêu xấu bao nhiêu Phật cũng không xấu xí thêm, cho dù có tô điểm bao nhiêu Phật cũng không vì thế mà thêm đẹp. Nó, Chính Đạo, cái giá trị bất-cấu-bất-tịnh-bất-tăng-bất-giảm ấy vậy:

Thưa rằng Phật thật là tài
Thấy mà chẳng thấy từ ngoài vào trong

Câu thơ ấy của ông mới nghe có vẻ như ngạo mạn, nhưng thật ra là chẳng ngạo mạn. Ngạo mạn là vô minh. Chấp trách ngạo mạn cũng là vô minh. Khi đã tĩnh tọa dưới gốc bồ đề, thì tâm bồ đề chẳng thấy cái ngạo mạn, chẳng trách kẻ ngạo mạn, chẳng quan tâm trách kẻ ngạo mạn, chẳng “thấy” có hay không có cái kẻ ngạo mạn để mà trách móc hay chẳng trách móc. Cho nên Bát Nhã Tâm Kinh nói: “Vô vô minh, diệc vô vô minh tận.”

Linh hồn bài thơ trên, mô tả một cảnh giới của cõi tịnh độ, một thái độ ứng xử vi vu nhẹ nhàng của một vị đại bồ tát bên trên những tảng băng khổng lồ của lý luận truyền thống. Ông làm một Nam Hải Điếu Đồ, kỳ tâm tịch tĩnh, trụ vô ngại xứ, để tâm du hư không, để hằng hằng tham dự vạn tượng giữa đời. Bùi Giáng nhẹ nhàng vui cười, thổi vào trung tâm lý luận một làn gió mát, làm cho bầu không khí thôi nặng nề, thôi kiểu cách, thôi lý luận trịnh trọng theo cách lý luận truyền thống, kiểu lý luận mà có thể đã làm cho tình trạng vốn đã khó hiểu càng khó hiểu thêm, rối rắm thêm, mỗi khi đứng giữa hai bờ đối đãi, đôi bờ phân biệt. "Sắc tức thị không, không tức thị sắc. Sắc bất dị không, không bất dị sắc... Vô sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Vô nhãn giới nãi chí vô ý thức giới. Vô vô minh diệc vô vô minh tận".
"Thấy mà chẳng thấy từ ngoài vào trong" là vô phân biệt, là bất nhị. Là tẩy rửa vô minh cho tới tận cùng. Vô vô minh diệc vô vô vinh tận.

Bất nhị là không hai, là vô phân biệt. Không hai là đồng nhất có một. Một ấy là vắng lặng tịch nhiên vô sở trụ. Vô sở trụ là không tọa lập yên nghỉ vào luận cứ cố định nào, là không căn cứ vào “hệ qui chiếu” nào để phán đoán một giá trị khác, hoặc một sở trụ nào đó.

Bài thơ Phật Và Tiên nói trên diễn giải về bước chân “viên dung vô ngại” của Phật, của các vị giác ngộ, cũng như của Nguyễn Du Nam Hải Điếu Đồ mà được Bùi Giáng diễn tả sau đây:

Nam Hải Điếu Đồ
Kỳ tâm tịch tĩnh
Trụ vô ngại xứ
Du như hư không nhi bao hàm vạn tượng
Hằng hằng tham dự nhi vĩnh tuyệt hồng trần

Đó là những bước ngao du an nhiên không vướng bận giữa cõi đời, những bước đi lại tự tại thần kỳ giữa xuất thế và nhập thế. Vì trụ tại nơi chốn vô sở trụ nên tâm không bị khuấy động. Tâm không bị khuấy động nên du hành vô ngại trên mọi nẻo đường. Khi thì như hư không xuất thế, lúc thì như nhập thế tham gia. Vì tâm tịch tĩnh như hư không, vì trụ vô ngại xứ, trụ vô sở trụ, nên vạn tượng thế gian được tự nhiên bao hàm mà không phải hì hục tích góp. Vì tâm tịch tĩnh như hư không, vì trụ vô ngại xứ, trụ vô sở trụ, nên tham dự vạn tượng của trần gian mà vẫn không bị bụi trần khuấy động, níu kéo, lây nhiễm.

Hermamn Hesse, trong cuốn Câu Chuyện Dòng Sông (Phùng Khánh và Phùng Thăng dịch) đã mô tả chi tiết những nẻo đường hành đạo “viên dung vô ngại” ấy, qua đời sống hành đạo của nhân vật Tất Đạt. Tất Đạt cũng như Nam Hải Điếu Đồ, cũng trụ tại vô ngại xứ, cũng để tâm mình tịch nhiên thanh tịnh, cho nên, dù họ xuất thế, xa lìa trần thế, mà vẫn không xa lìa vạn tượng trần thế; cho nên dù họ nhập thế, tham dự mọi lễ hội hồng trần mà vẫn vĩnh ly đoạn tuyệt cát bụi hồng trần.

Nam Hải Điếu Đồ
Kỳ tâm tịch tĩnh
Trụ vô ngại xứ
Du như hư không nhi bao hàm vạn tượng
Hằng hằng tham dự nhi vĩnh tuyệt hồng trần

Đó là đỉnh cao trí tuệ Bát Nhã. Đó là khi Nàng Thơ đẹp tới chin tầng:

Khi thơ đẹp tới chin tầng
Thì Nàng Thơ bỗng sượng sần cả ra
Tha hồ thằng quỉ con ma
Tới gùn ghè gạ gẫm mà hóa điên
Thưa rằng đại thánh tề thiên
Nghìn xưa âu cũng chỉ điên ngần này

Thằng quỉ con ma tới gùn ghè gạ gẫm Nàng Thơ vào lúc thơ đẹp tới chin tầng ngất ngưởng! Thằng quỉ đội lốt văn nghệ, con ma núp bóng văn học, nó vo tròn, nó bóp méo, nó thêu dệt, nó lấy nàng thơ làm phương tiện trang điểm cho tham vọng vô tư của nó, hoặc nó đem nàng thơ ra kinh doanh mua bán, hoặc nó bêu rêu bôi nhọ xuyên tạc bởi những mục đích yêu tinh không mục đích của nó.

Từ bao lâu rồi đã rối beng như thế, một cõi đời thiện ác ngổn ngang, chân giả lẫn lộn, chánh tà chung chạ, phải trái đan chen. Những bậc chân nhân kim cổ đã không ngớt kêu gào, nhưng tình thế có vẻ không thay đổi theo xu hướng sáng sủa hơn.

Không phải nêu lên sự việc Nàng Thơ Đẹp với mục đích để bêu xấu ai, mà chỉ là để báo thức những tâm hồn xuân sắc có thể vô tình lầm lỡ trở thành nạn nhân của bốn bề cạm bẫy hư không.

Đôi khi, vì tập quán gần xa đeo bám lâu đời, mỗi khi nêu ra sự việc, không thể nói toạc tất cả mặt trái mặt phải cho tất cả mọi loại lỗ tai đều nghe. Cho nên, khi đề cập về những lẽ chân thật, các bậc tiền bối hoặc là phát biểu bóng gió xa xôi, hoặc là chỉ nói ỡm ờ bỡn cợt nửa đùa nửa thật. Và mong đợi ai ai những thức tỉnh bất ngờ.


NGUYEN QUANG THANH











KHẢO LUẬN VỀ BÙI GIÁNG & TRỊNH CÔNG SƠN
Bùi Giáng (1926-1998)
* Để làm ấm lại trái tim đã nguội lạnh
* Để làm sống lại bộ óc đã xơ cứng
Huy Tưởng - Bùi Giáng

F. Nietzsche:

Về chuyện vắn gọn, Jean Paul có đưa ra một lời khuyên giá trị: “Nói tóm lại thì tất cả những gì là cao đại hoằng viễn, tất cả những gì mang nhiều ý nghĩa đối với một số hiếm hoi những tinh thần, thì nên được diễn tả bằng những hạn từ vắn tắt, do đó tối tăm, cốt ý để cho tâm hồn phàm phu tục tử có khuynh hướng xem nó là vô nghĩa, hơn là cố ý tìm cách diễn dịch nó ra trong cái vẻ vô vị đặc biệt của nó. Bởi lẽ những tâm hồn phàm phu thường có một sự khéo léo đáng tởm là chỉ nhìn thấy trong cái lời lẽ sâu thẳm và phong phú nhất, chỉ duy có sự tầm thường của ý kiến họ.”

(F. Nietzsche, Triết Lý Hy Lạp Thời Bi Kịch, Trần Xuân Kiêm dịch).
Khảo Luận Về Bùi Giáng và Trịnh Công Sơn  -  Nguyen Quang Thanh biên soạn
Website: www.nguyenquangthanh.com  -  tác giả tự trình bày
- Nàng Thơ Đẹp
- Lời Không Tiếng