Bùi Giáng
KHẢO LUẬN VỀ BÙI GIÁNG & TRỊNH CÔNG SƠN
THI CA TƯ TƯỞNG

Đôi dòng làm quen:


Thi nhân, tác hà dụng? Thi sĩ, để làm gì?

“… Và để làm gì, thi nhân trong thời buổi điêu linh thống khổ?”
… Giả sử rằng thời buổi thống khổ điêu linh còn có được một cơ hội qui hồi, phục chuyển, thì cuộc phục chuyển qui hồi nọ chỉ có thể xảy ra là lúc cõi đời hồi chuyển từ căn để u uyên, và nói thế, giờ đây chỉ có nghĩa đơn sơ là: nếu cõi đời hồi chuyển qui phục từ nơi vực sâu không đáy. Trong thời đại của đêm tối cõi đời, cái vực sâu không đáy kia của cõi đời phải được thể nghiệm và được kiệt tận miên bạc bình sinh. Và muốn vậy thì điều cần thiết là phải có vài kẻ đạt tới cái chỗ cùng tận của cái đáy vực sâu không đáy.

… Thi nhân là những con người, những con kẻ, của những con đời tử diệt phù du, đã ngậm ngùi trang nghiêm túc mục ca ngâm Tửu Thần, và ngấn tồn những ngấn tích, và lưu tích những lưu tung của những thánh thần trôi biệt, và ở lại lập-tồn-lưu-ngụ tại chỗ ấn tích in rêu kia, và vạch ngấn ra một miền cho những đồng bào phù du, tử diệt, và vạch ngấn ra cho họ, cái con đường của phục chuyển hồi quy.
(Martin Heidegger, Thi Sĩ Để Làm Gì
Bùi Giáng, Sương Bình Nguyên)


THƠ DỞ, THƠ HAY
Dở tức là hay, hay tức là dở, ấy là con chuồn chuồn
Hữu tức thị vô, vô tức thị hữu, hữu thị bất-hữu-đích-hữu, vô thị phi-vô-đích-vô, ấy là con chuồn chuồn
Có tức thị không, không tức thị có, có tức là có-chẳng-có, không tức là không-chẳng-không, ấy là con chuồn chuồn
Ăn nói tục tĩu, ấy là con chuồn chuồn
Vì tục mà nên tiên, vì tiên mà nên tục, ấy là con chuồn chuồn
Tục cố tiên, tiên cố tục, tục thị bất-tục-dích-tục, tiên thị phi-tiên-đích-tiên, ấy là con chuồn chuồn...
(Bùi Giáng)
Phần 2: Sống, Suy Tư & Sáng Tác
          2.3 Bùi Giáng, Thi Ca

THƠ DỞ, THƠ HAY



Hỏi: Vì sao người ta thường thích thơ dở hơn thơ hay?
Đáp: Bởi vì thơ dở có vẻ hay hơn thơ hay
.
(Bùi Giáng)

Lời vấn đáp ấy tuy đơn sơ nhưng đanh thép. Nó đập mạnh vào lồng ngực của những thi nhân thánh thần, trong thời buổi điêu linh thống khổ.

Vì sao người ta thường thích thơ dở hơn thơ hay? Bởi vì thơ dở có vẻ hay hơn thơ hay.

Câu hỏi và lời đáp cay đắng ấy không chỉ nêu ra thực trạng cay đắng nghiêm trọng trong cõi thơ không thôi, mà còn có thể dễ dàng tìm thấy nó chua chát phổ biến trong mọi lĩnh vực. Quá nhiều câu hỏi khổng lồ tương tự, và mỗi người có thể tự tìm thấy câu trả lời:

Tại sao các danh họa thường chịu nhiều phũ phàng thê thảm trước cặp mắt phán xét của người đương thời, và rồi rất lâu sau đó mới được muộn màng “ngưỡng mộ”? Tại sao những lời can gián chính đáng của các trung thần thường khó nghe hơn là lời ve vuốt trơn tru của các nịnh thần? Tại sao Nguyễn Trãi bị tru di tam tộc? Tại sao "Hình Nhi Hạ" Khổng Tử khắc sâu vào lòng người người (ngợm ngợm), còn Hình Nhi Thượng thì vẫn là khu vườn lặng lẽ vắng người (Trần Trọng Kim, Nho Giáo)? Tại sao lời loạn động của phù thủy phát khởi có vẻ êm ái dễ nghe hơn là lời của tâm thanh tịnh chân tu? Tại sao nhan khói chùa chiền quyến rũ hơn vách đá lạnh ngắt của Bồ Đề Đạt Ma? Tại sao tánh Phật không dễ khiến an tâm chúng sanh cho bằng tượng Phật? Tại sao thái dương hệ của Gallilée không được yêu chuộng cho bằng quan niệm quả đất trung tâm của Giáo Hội La Mã lúc bấy giờ?

Đó là nỗi sầu vạn đại của những tâm hồn vượt thời đại. Nỗi sầu mà họ đã biết rõ do lai. Biết, thế mà nó vẫn sầu. Sầu mà thật ra không phiền muộn. Nói không phiền muộn mà lòng vẫn u buồn. Lòng u buồn mà máu tim thanh thản khoan khoái. Máu tim thanh thản mà thân xác vẫn đớn đau. Thân xác đớn đau mà sao môi cười vẫn nở. Môi miệng tươi cười mà sao nước mắt cứ rưng rưng. Lệ ngấn rưng rưng mà sao dòng thơ vẫn bát ngát yêu đời. Thơ yêu đời sao thơ vẫn đầy lời hằn học. Lời hằn học sao lại êm ái nhẹ nhàng như ru. Êm như ru sao khiến lay động đủ cho người tỉnh giấc. Tỉnh giấc rồi sao vẫn tiếp tục nguyền rủa thế gian bằng những bài thơ ca ngợi mặt đất vang lừng???

KỶ NIỆM TRẦN GIAN
Những ngày điên rồ
Thật là vui
Những ngày tỉnh táo
Cũng thật vui
Thật vui cũng thật là buồn
Thật buồn cũng thật thật buồn u u

U u buồn trong đêm triền miên tăm tối cõi đời, trong buổi văn chương què quặt, trong ngày mạc thế kéo dài. Người tư tưởng vẫn cô đơn trong sa mạc dai dẳng hàng trăm năm mở rộng u mê. Người tư tưởng đành lang thang đi lại trong trần gian, “tựa như” người là kẻ chiêm bao mộng tưởng.

Gọi là “tựa như” vì chẳng phải mộng tưởng cái xa lạ viễn vông, mà là “chiêm bao mộng tưởng” về cái có thật, mộng tưởng cái rành rành sỡ hữu trong tay. Đáng lẽ phải gọi cái đó là cái có thật, nhưng trong thế giới ngôn ngữ hỗn độn này, đành tạm gọi nó là chiêm bao mộng tưởng. Vì người ta đã trót đặt tên cái hão huyền của họ là thật tế rồi, em ạ, thì tôi sẽ gọi tên em là …, là Thi Ca, là Mộng Tưởng chẳng hạn, hoặc là Cố Quận cũng nên. Cái tên, tự nó chẳng có nghĩa gì cả.


NGUYEN QUANG THANH



Nguyen Quang Thanh biên soạn
Khảo Luận Về Bùi Giáng và Trịnh Công Sơn  -  Nguyen Quang Thanh biên soạn
Website: www.nguyenquangthanh.com  -  tác giả tự trình bày
2.3.1 Thơ Dở, Thơ Hay
THI CA TƯ TƯỞNG
Bùi Giáng