Niềm Vui Ẩn Mật Trong Văn Thơ Bùi Giáng
NGUYEN QUANG THANH biên soạn
Niềm Vui Ẩn Mật
Trong Văn Thơ Bùi Giáng
KHẢO LUẬN VỀ BÙI GIÁNG & TRỊNH CÔNG SƠN

M. Heidegger:

“… Và để làm gì, thi nhân trong thời buổi điêu linh thống khổ?”
… Giả sử rằng thời buổi thống khổ điêu linh còn có được một cơ hội qui hồi, phục chuyển, thì cuộc phục chuyển qui hồi nọ chỉ có thể xảy ra là lúc cõi đời hồi chuyển từ căn để u uyên, và nói thế, giờ đây chỉ có nghĩa đơn sơ là: nếu cõi đời hồi chuyển qui phục từ nơi vực sâu không đáy. Trong thời đại của đêm tối cõi đời, cái vực sâu không đáy kia của cõi đời phải được thể nghiệm và được kiệt tận miên bạc bình sinh. Và muốn vậy thì điều cần thiết là phải có vài kẻ đạt tới cái chỗ cùng tận của cái đáy vực sâu không đáy.
… Thi nhân là những con người, những con kẻ, của những con đời tử diệt phù du, đã ngậm ngùi trang nhiêm túc mục ca ngâm Tửu Thần, và ngấn tồn những ngấn tích, và lưu tích những lưu tung của những thánh thần trôi biệt, và ở lại lập-tồn-lưu-ngụ tại chỗ ấn tích in rêu kia, và vạch ngấn ra một miền cho những đồng bào phù du, tử diệt, và vạch ngấn ra cho họ, cái con đường của phục chuyển hồi quy.
(Martin Heidegger, Thi Sĩ Để Làm Gì
Bùi Giáng, Sương Bình Nguyên)
Niềm Vui Ẩn Mật Trong Văn Thơ Bùi Giáng

DẪN NHẬP
(MUA VUI CŨNG ĐƯỢC MỘT VÀI TRỐNG CANH)

Đọc sách, ai cũng muốn tìm kiếm niềm vui, không ai có ý định đọc sách để chuốc lấy mối sầu.

Đã đành là vậy, tuy nhiên, nếu ráo riết nêu ra câu hỏi, “ vui” là chi, “ sầu” là gì, đôi lứa ấy cặp kè bè bạn đồng dị ra sao, thì quả thật khó lòng rành rọt phân định cho tường tận đôi bờ ranh giới.

Ai ai có lẽ cũng đều trải qua ít nhiều cơ hội chứng nghiệm sự thật tưởng chừng mâu thuẫn rằng, có những niềm vui đặc quánh chua chát, và cũng có những mối sầu phảng phất hân hoan, khoảnh khắc mà niềm vui và nỗi buồn bỗng nhiên vi vu bay lượn vô phương hướng bên trên giới tuyến của khái niệm buồn vui thường tình. “Qua Đèo Ngang” của Bà Huyện Thanh Quan là thí dụ thứ nhất, “Truyện Kiều” của Nguyễn Du là thí dụ thứ hai, “Gửi Hương Cho Gió” của Xuân Diệu là thí dụ thứ ba. “Othello” của William Shakespeare là thí dụ thứ tư, “Nàng Thơ Đẹp” của Bùi Giáng là thí dụ thứ năm.

Vui hân hoàn tới mấy tầng mây, sầu mênh mông tới bao nhiêu sông biển, cao thấp rộng hẹp thế nào, điều đó tùy thuộc vào sức mạnh tâm hồn huân tập được của từng độc giả mỗi khi lần giở cảo thơm. Niềm vui bát ngát phiêu bồng thì hiếm hoi, khó kiếm. Niềm vui dễ dãi, lai rai, nhai lại thì hằng hà sa số đó đây, chẳng phải hoài công khó nhọc truy tầm.

Đọc sách của Bùi Giáng, đôi khi chúng ta có cảm tưởng nhẹ nhàng như đang uống nước suối, nhưng lắm khi lại cảm thấy gai góc như đang lạc bước vào bụi rậm. Tuy nhiên, dù thế nào, nếu chậm rãi lật từng trang, ngẫm nghĩ từng ẩn ý, sẽ thấy nguồn dinh dưỡng tinh thần nằm ẩn mật bên trong trang sách quả thật rất đáng cho đời biết đến.

Niềm vui xỏa lộng tưng bừng qua mỗi trang sách của ông, rực rỡ từ “màu hoa trên ngàn” ban sơ, bàng bạc trong “trăng sương bình nguyên” thổn thức phiêu bồng, tuôn chảy ra lai láng khắp Tỳ Hải Trăng Sương hà thanh thúy lục … đọc ở quyển nào, trang nào, từ trang chan chứa nắng mai hừng sáng niềm vui, đến tờ gởi gắm tâm sự cô thôn hiu hắt nỗi sầu, nếu chịu lắng tai nghe, cũng đều có thể khiến tâm hồn chúng ta lâng lâng hòa quyện vào, tiếp nhận được những giai điệu rộn ràng líu lo của bầy chim reo ca, cùng vượt lên khỏi bầu không khí vui buồn cười khóc thủ cựu nặng nề, và khởi sự háo hực rạo rực yêu đời như mới được yêu đời lần thứ nhất.

Dĩ nhiên văn thơ ông không thiếu những giọt châu long lanh lệ hồng – bởi ông cũng đau đớn nổi chìm trong biển đời hồng lệ như bao người – nhưng đó là nước mắt ngọt ngào tuyết bạch mà sẽ tiếp dẫn linh hồn người ta đi từ sầu tới vui, từ đau khổ tới hạnh phúc, từ mù lòa đến sáng mắt, từ vô minh tới vô vô minh tận, từ phiền não đến bồ đề,…, nghĩa là từ vui xuân này đến vui xuân khác, từ hạnh phúc này đến hạnh phúc khác, từ thế giới thần tiên này đến thế giới thần tiên khác, từ thế giới mộng mị phân biệt này đến thế giới thơ mộng toàn mãn vô phân biệt khác.

“Thi nhân, tác hà dụng? Thi sĩ, để làm gì?
“… Và để làm gì, thi nhân trong thời buổi điêu linh thống khổ?”
"… Giả sử rằng thời buổi thống khổ điêu linh còn có được một cơ hội qui hồi, phục chuyển, thì cuộc phục chuyển qui hồi nọ chỉ có thể xảy ra là lúc cõi đời hồi chuyển từ căn để u uyên, và nói thế, giờ đây chỉ có nghĩa đơn sơ là: nếu cõi đời hồi chuyển qui phục từ nơi vực sâu không đáy. Trong thời đại của đêm tối cõi đời, cái vực sâu không đáy kia của cõi đời phải được thể nghiệm và được kiệt tận miên bạc bình sinh. Và muốn vậy thì điều cần thiết là phải có vài kẻ đạt tới cái chỗ cùng tận của cái đáy vực sâu không đáy.

"… Thi nhân là những con người, những con kẻ, của những con đời tử diệt phù du, đã ngậm ngùi trang nghiêm túc mục ca ngâm Tửu Thần, và ngấn tồn những ngấn tích, và lưu tích những lưu tung của những thánh thần trôi biệt, và ở lại lập-tồn-lưu-ngụ tại chỗ ấn tích in rêu kia, và vạch ngấn ra một miền cho những đồng bào phù du, tử diệt, và vạch ngấn ra cho họ, cái con đường của phục chuyển hồi quy."
(Martin Heidegger, Thi Sĩ Để Làm Gì
Bùi Giáng, Sương Bình Nguyên)

Bùi Giáng, thi nhân thấu thị, đã sống kiệt tận miên bạc bình sinh, đã là một trong số hiếm hoi những linh hồn đã đi đến tận đáy của cái vực sâu không đáy, đã yêu đắm đuối cả cuộc bể dâu buồn tủi thê thảm, để công phu ghi tạc lại, bằng ngòi bút lô hỏa thuần thanh, những hương màu hoa cỏ toàn nhiên mà ông chiêm nghiệm được khi vui bước giữa con đời lạnh lùng lờ lững trôi đi.

Đó là những giòng lá thắm, những đường chim xanh, nơi mà chân tình của ông đã trao gởi hết vào cho ngẫu nhĩ sương mù, cho tùy ai về sau có đủ cơ duyên đón nhận hay không thì chưa biết trước, như lời ông thiết tha tâm sự:

Em về mấy thế kỷ sau
Nhìn trăng có thấy nguyên màu ấy không
Anh đi gởi lại đôi giòng
Lá rơi có dội ở trong sương mù?

Chúng ta đã sống, đã chiêm nghiệm ít nhiều trong cõi người ta, đã trằn trọc liên miên về thế giới chung quanh, đã băng khuăng không ngớt trước giòng đời sục sôi giông bão, đã bứt rứt bao xiết trước vô thường thương hải tang điền, đã hoang mang bao bận mỗi khi nhìn những “ chân lý” lần lượt quỵ nhào, đã khốn cùng bao phen khi chứng kiến những “ thần tượng” liên tiếp trở thành quá vãng, v.v… Nếu chúng ta từng đã như vậy, thì ắt hẳn chúng ta sẽ tìm thấy ở Bùi Giáng một cơ hội cho tâm hồn mình khai mở: một ngón tay chỉ hướng, một cánh hoa đưa lên, và chúng ta chỉ việc bắt chước Ca Diếp im lặng tiếp nhận bằng một nụ cười hồn nhiên xuân sắc.

Dù ý ông nói “ Niềm Vui ẩn Mật” ấy phơi bày, hoặc nói “ Niềm Vui” ấy ẩn mật che dấu, thì thảy thảy đếu là ngôn từ, mà chung qui đều là phương tiện để dẫn về một mục đích: giúp huynh đệ tự khai mở cõi miền an lạc ẩn tàng – nhưng luôn sẵn sàng tư thế phơi mở -- ở trong chính tâm hồn và trí huệ của mình trước hết, và tiếp theo, là từ những hằng hà sa số dưỡng chất hiện diện chung quanh mỗi mỗi chúng ta.

Dưỡng chất trần gian ấy, cái không thể nhìn thấy bằng mắt, không thể sờ mó bằng tay, mà chỉ có thể cảm nghiệm bằng con tim và khối óc.

Hoàng Tử Bé của Saint-Exupery nói:

“The most beautiful things in the world cannot be seen or touched, they are felt with the hearts.” (Antoine de Saint-Exupéry, The Little Prince).

Cô Em Mọi của Bùi Giáng thì nói:

“Một lời chẳng nghĩa là bao
Dẫu lời không tiếng lẽ nào không nghe?”


NGUYEN QUANG THANH


KHẢO LUẬN VỀ BÙI GIÁNG VÀ TRỊNH CÔNG SƠN  -  NGUYEN QUANG THANH biên soạn
Website:  www.nguyenquangthanh.com     -   tác giả tự trình bày
Em về mấy thế kỷ sau
Nhìn trăng có thấy nguyên màu ấy không
Anh đi gởi lại đôi giòng
Lá rơi có dội ở trong sương mù?
(BG)
Tượng đất sét của Huỳnh Văn Đa.