Thi Ca Tư Tưởng BÙI GÍANG
Nguyen Quang Thanh biên soạn
 MỘT CUỘC ĐỜI NHƯ MỌI CUỘC ĐỜI
KHẢO LUẬN VỀ BÙI GIÁNG & TRỊNH CÔNG SƠN
PHẦN 2: SỐNG, SUY TƯ & SÁNG TÁC




Emily Dickinson
1830-1886

My life closed twice before its close
It yet remains to see
If Immortality unveil
A third event to me
So huge, so hopeless to conceive
As these that twice befell
Parting is all we know of heaven
And all we need of hell
(Emily Dickinson)
Khảo Luận Về Bùi Giáng và Trịnh Công Sơn  -  Nguyen Quang Thanh biên soạn
Website: www.nguyenquangthanh.com  -  tác giả tự trình bày

BÙI GIÁNG,
MỘT CUỘC ĐỜI NHƯ MỌI CUỘC ĐỜI



Điều rất lạ là, xưa nay người ta có thói quen, cứ mỗi khi cần tìm hiểu một tác giả tài năng, người ta thường lay hoay tìm hiểu ngày sinh tháng đẻ, quê quán, gốc gác gia đình của họ, chứ ít khi tìm hiểu chính nội dung tác phẩm của họ trước hết. Đối với một tác giả thuộc loại đặc biệt như Bùi Giáng, bước đi lệnh lạc đầu tiên ấy càng làm cho người ta càng xa rời mục đích nghiên cứu chính thức. Mục đích chính yếu, ấy là nghiên cứu xem tác giả tài năng ấy đã trình bày những nội dung gì, qua những tác phẩm nào, được phô diễn linh đình ở chỗ nào trong tác phẩm, hoặc bày biện huy hoàng tráng lệ ra sao qua cuộc đời sáng tác của họ...  Ở trang bìa sau cuốn “Tư Tưởng Hiện Đại” của Bùi Giáng (Tân An xuất bản) thấy có in vỏn vẹn vài dòng đơn sơ sau đây, để thay thế cho phần "tiểu sử tác giả" dài dòng thường thấy ở những cuốn sách khác.

Hỏi Bùi Giáng về tiểu sử của ông, thì ông trả lời:
“Thi sĩ sinh ra như mọi người giữa cỏ cây ly kỳ, và chết đi giữa cỏ cây ly kỳ gay cấn”.

Cách nói có vẻ đùa cợt nhưng rất nghiêm trang ấy, cho thấy cách nhìn vấn đề độc đáo của một Bùi Giáng lạ thường. Khi nói như vậy, ông đã đi tiên phong, dứt bỏ cái thói quen "tiểu sử" kiểu giáo khoa trường lớp máy móc xưa cũ, nó khiến mình tự làm lệch lạc mình, tự ru ngủ mình bằng sự hài lòng ở mấy trang tiểu sử vớ vẩn, loại tiểu sử lai rai mà vốn chẳng nói lên điều gì thật sự đáng kể,  mà quên đi cái điều cốt yếu là nội dung của tác phẩm mà tác giả đề cập. Nếu cẩn thận lật lại những bản dịch, rồi những cuốn sách do ông biên soạn, sẽ thấy mỗi khi Bùi Giáng giới thiệu với chúng ta một thiên tài nào đó, ông không bao giờ nói đến cái gọi là tiểu sử của người ấy, mà chỉ đi thẳng vào tác phẩm hoặc trọng tâm tư tưởng mà ông muốn giới thiệu. Vậy đó, qua câu nói cà rỡn bay bướm đó về tiểu sử của mình, ông đã nhắc nhở người ta tập mở mắt để nhìn, mở tai để nghe, phơi bày đủ lục giác để cảm nghiệm, để thọ hưởng, để thấu suốt đối tượng, dù đối tượng đó là con người, là tác phẩm, là một đêm trăng, hoặc là một nấm cỏ khâu lồng lộng hương hoa cũng vậy. Phải, thi sĩ cũng giống như mọi người, cũng từ chốn bồng lai thơ mộng ấy mà sinh, rồi cũng giã từ cõi mộng điêu linh ly kỳ kia mà đi vào tịch diệt. Chuyện cuộc đời thì ai cũng giống như ai, cũng sinh ra, lớn lên rồi chết đi, chứ có gì khác đâu mà phải tò mò tọc mạch vạch lá tìm sâu lẩm cẩm! Chuyện sinh tử, điểm khởi đầu và kết thúc của cõi người ta, ai cũng đã biết như ai, sao còn phải lôi thôi dọ hỏi làm gì. Điều cần phải ưu tư thắc mắc, nó nằm ở chỗ khác chứ không phải ở vài trang "tiểu sử".
Anh em thế hệ trẻ Việt Nam bây giờ, ngẫu nhĩ có đọc thơ văn tôi, có bất ngờ xúc động vì những điều tôi nói về Nguyễn Du, về Nguyễn Khắc Hiếu, về Xuân Diệu, về Trần Quang Dũng – có hay không cái đó? Nếu không có cái đó, thì bận tâm làm gì với cái cá thể của một gã thi sĩ Quảng Nam tên là Bùi Giáng?
(Bùi Giáng, Thư trả lời Tạp Chí Thời Văn)

Nhiều tác giả khác thường thích phô trương mình bằng những dòng tiểu sử cầu kỳ. Bùi Giáng thì không. Nếu không có cái đó, cái xúc cảm đó, nếu khi đọc thơ văn ông, không có xúc động vì những điều ông nói về, thì bận tâm làm gì với cái cá thể của một gã thi sĩ Quảng Nam tên là Bùi Giáng làm gì? Tiểu sử Bùi Giáng mà làm gì? Câu nói ấy giúp chúng ta nhận diện những kẻ thích đùa, tưởng có thể dùng văn học làm phương tiện vinh hiển phù du, hoặc để phục vụ cho một chủ đích ngoài văn học.
Tuy nhiên, nếu chúng ta vẫn thắc mắc, nằng nặc muốn biết ít nhiều về nơi sinh chốn đẻ, nơi chôn nhau cắt rốn của ông, thì đây, ông đã lễ phép thưa, ngay trong những tác phẩm của mình:
Hỏi rằng: người ở quê đâu
Thưa rằng: tôi ở rất lâu quê nhà

Đó là câu trả lời về nơi chôn nhau cắt rốn của Bùi Giáng. Trả lời mà như chẳng trả lời. Đó lại là một cách nói “đùa cợt” cố ý, chân thật, một ẩn ngữ thân thiết. Ẩn ngữ kiểu như vậy xuất hiện khắp nơi trong tác phẩm của ông. Lúc nào ông cũng muốn dìu người ta về với cái cốt yếu. Ông giả bộ đi lạc hướng một chút đủ để người ta giật mình ngỡ ngàng, rồi lại ân cần dìu dắt nhau trở lại đúng đường. Thưa rằng tôi ở rất lâu quê nhà, thưa rằng tất cả mọi người lớn đều đã từng là trẻ con.

Tất cả mọi kẻ có khát vọng lên đường tìm kiếm lẽ thật đều từng đã lưu ngụ ở quê nhà. Bùi Giáng cũng vậy, từng ngây thơ bé dại, từng tắm mát trong mưa nguồn, từng hái hoa bên đồi sim, từng đón tiếng chim kêu bên bờ suối, từng lượn lờ với chuồn chuồn trên đồi chiều. Đó là quê nhà, là cố quận, nghĩa là cái chốn mà con người từng lưu ngụ lúc chưa bị tha hóa, chưa mang nặng định kiến, chưa tiêm nhiễm thói tật của những “người lớn” vô minh.
Đến đây, có thể chúng ta tỏ ra không thỏa mãn với cách trả lời né tránh ấy, thì ông cũng chìu lòng mà dài dòng tâm sự bằng một bài thơ khác vậy:

Ra đồng nằm ngủ bờ khe
Chợt bồi hồi tỉnh chợt nghe có người
Ấy người thôn nữ vui tươi
Nhe răng cười nói khiến tôi giật mình
Bởi em quá đẹp quá xinh
Gánh gạo từ xóm Vĩnh Trinh quay về
Về làng An Lạc Mỹ Khê?
An Lâm? Lệ Trạch? Cận kề Thanh Châu?
Làng em chính thật Thanh Châu?
Chính là quê cũ từ đầu của tôi
Xa quê bốn chục năm trời
Nằm mê mộng mị bất ngờ thấy em
(Chuyện Chiêm Bao Có Thật, Như Sương)




Đời tôi khép lại hai lần
Trước lần khép mắt khôn hàn vĩnh ly
Tuy nhiên còn nấn ná vì
Để xem vĩnh cửu còn gì mở ra
Cho mình biến cố thứ ba
Những gì song điệp xảy ra
Gẫm càng đồ sộ gợi ra lại càng
Ngất trời tuyệt vọng mang mang
Thiên đường địa ngục còn chan chứa gì
Vĩnh ly là chất của trời
Vĩnh ly là thói của đời nhà ma
( Kể từ cửa quỷ tuôn ra
Thói nhà băng tuyết chất là phỉ phong)

Bùi Giáng (dịch)
 MỘT CUỘC ĐỜI NHƯ MỌI CUỘC ĐỜI

Lời Bùi Giáng:

* Anh em thế hệ trẻ Việt Nam bây giờ, ngẫu nhĩ có đọc thơ văn tôi, có bất ngờ xúc động vì những điều tôi nói về Nguyễn Du, về Nguyễn Khắc Hiếu, về Xuân Diệu, về Trần Quang Dũng – có hay không cái đó? Nếu không có cái đó, thì bận tâm làm gì với cái cá thể của một gã thi sĩ Quảng Nam tên là Bùi Giáng?

* Thi sĩ sinh ra như mọi người giữa cỏ cây ly kỳ, và chết đi giữa cỏ cây ly kỳ gay cấn.




Qua bài thơ đó, chúng ta cũng bắt đầu làm quen với "người tình" duy nhất của thi ca Bùi Giáng. Ông "biết yêu" rất sớm, ngay từ khi ở độ tuổi lên ba. Người tình ấy – Cô Em Mọi – là ai, ta sẽ tìm hiểu kỹ sau ở phần Ẩn Ngữ Mẫu Thân và Cô Em Mọi. Còn tại đây, nên nhanh chóng biết nàng vốn là cô em đã gợi nguồn cảm hứng chính yếu suốt cuộc hành trình thi ca và tư tưởng của ông. Nàng cùng ông vui chơi với trăng ngàn gió núi được độ mươi năm thì tạm chia tay. Ông phiêu bồng hạ sơn, về chốn bình nguyên thị thành, lòng tràn trề hứa hẹn sẽ thu nhặt nhiều hương hoa gấm vóc lụa là mới lạ đem về tặng nàng.
Em nhớ đó em hứa xưa rằng sẽ
Viết thư nhiều và nhắc lại ngày xanh
Tình quá đẹp hai đứa mình biết thế
Thì anh xin cùng kể lại ngọn ngành

Ông trở thành một trong rất ít hoàng tử thị thành biết say đắm và chung thủy với màu hoa của mối tình sơ ngộ trên ngàn. Ông cố lục tìm, góp nhặt hoa thơm cỏ lạ từ sử lịch bốn phương Kim Cổ Đông Tây hội tụ về nơi đô hội này. Ông hiến dâng cho Cô Em Mọi tất cả, cuộc đời và sự nghiệp, không giữ lại gì cho cá nhân mình. Ăn cơm chùa, ở nhà lá. Lắng nghe, suy tư, viết. Thật giản dị. Thế rồi, một hôm, hoặc một hai ba bốn hôm gì đó, ông chua xót nhận ra rằng, nếu mỗi ngày trôi qua ông hái được một nụ hoa thành thị, thì cũng mỗi ngày trôi qua ông làm rơi rụng mất mười nụ hoa thơm khác khỏi lòng thủy chung Nguyên Xuân với Cô Em Mọi nhỏ ở trên rừng:
Rồi tôi lớn đi vào đời chân bước
Cỏ mùa xuân bị dẫm nát không hay

Cỏ mùa xuân nào bị dẫm nát? Là ẩn ngữ nào ông ghi tạc? Là cỏ trên ngàn, là hoa bên suối, là tiểu khê bên miền, là hồn nhiên con trẻ, là thiếu nữ thanh tân, là Em Mọi chân chất, là cái mà người lớn không còn, là cái mà học giả không có, là cái ẩn tàng đàng sau ngôn ngữ, là cái ẩn nặc bên dưới ngôn từ, là cái chon von bên trên luân thường, là cái cheo leo trên đầu đức lý, là cái hiện về trong chiêm bao, là cái giọt nước tinh khiết từ mưa nguồn tuôn đổ, vân vân… Vì sao tại chốn thị thành, mùa xuân bị dẫm nát tơi bời tàn nhẫn đó? Ẩn ngữ thưa rằng:
Sách ăn mòn mỏi thân ta
Thân ta máu gặm mòn da xương rồi
Sách còn tờ mộng trang môi
Miệng còn rớt hột rạng ngời nữa chăng
(Nói Với Tuổi Mọt Sách)

Hóa ra, không có chốn “thành thị” nào lại có thể phát tiết mùi hương xuân sắc dồi dào tinh anh cho bằng ở núi rừng của Cô Em Mọi nhỏ. Cô Em Mọi của ông sở dĩ thốt ra lời nào cũng ấm áp, thanh thoát, vì nàng là biểu tượng của tấm lòng nguyên sơ chân thật. Còn ở trường lớp thị thành, cửa miệng họ không thể phát biểu những lời của tấm chân tình, mà chỉ có thể phóng thanh những lý lẽ rập khuôn na ná máy móc như nhau, hoàn toàn xa lạ với hồn thiên nhiên uyển chuyển muôn màu. Đầu óc họ ngủ yên trong lý luận chết cóng, làm tê liệt sức mạnh suy tư vốn có của họ, đến nỗi họ vô tình tàn bạo lên án xua đuổi cả những ánh mặt trời thiện tâm muốn giải cứu họ ra khỏi giá băng.

Vì thế, mặc dù rất yêu màu phượng vĩ sân trường, ông không thể ngồi yên trong trường học để cà cọ bạn bè, chung ghế chung trường với những con mọt sách, và đành lặng lẽ ra đi một mình, kỳ vọng vào những mùa phượng vĩ khác. Từ độ đó, phượng của ông không nở trên sân trường vào màu hè, mà nở tràn lan trong sân chùa, bên hè phố, khắp nơi, suốt bốn màu Xuân Hạ Thu Đông.
Người ta trốn lính đi tu
Em nay trốn học đi tu ắt là

Đi tu là lên đường hành đạo, là tập trung sáng tạo, là phất cờ tiên phong trên vòm thời đại, là theo hướng chỉ của ngón tay để thấy được Hằng Nga. Vậy đó gọi là đi tu. Đi tu ắt là? Là sao? Do động cơ nào thôi thúc?
Tài hoa tức tưởi khôn hàn
Nắm dư vang đẩy lên ngàn bóng sương
Cành thu chớm hẹn trái hường
Cỏ gai chợt lấp con đường đầu khe
Sớm hôm đứng phố ngồi hè
Gió tây thổi lạnh lùng nghe trong mình
Cõi bờ thương nhớ rộng thênh
Về trong thiên hạ người quên em rồi
(Bữa trước)

Tức tưởi thật cho anh. Cỏ gai thời đại chợt lấp con đường diệu đế đầu khe. Giữa phố thị thiên hạ mù lòa, anh phải luồn lách nhọc nhằn, để trái tim còn ghì giữ được ân tình với chánh đạo, khả dĩ dẫn dắt ngòi bút mình khỏi lạc bước giữa tà huy trời chiều. Thôi, đi đi anh, đừng trù trừ, cho dù giông bão đang hung hãn bên ngoài, giằng xé những trà mi thơ ngây, những tường vi thơ mộng.
Anh đi phố đứng phường ngồi
Ruổi rong hè chợ mọc mời trăng khuya
(BG)


Mời đọc tiếp Cuộc Đời Bùi Giáng   đoạn 2 : TRỜI TUỔI TRẺ BỤI NÀO VỀ VÂY HÃM