BÙI GIÁNG & TRỊNH CÔNG SƠN
Khảo Luận Về
NGUYEN QUANG THANH   biên soạn
Đạp xe đi giữa lòng con hẻm sâu hun hút, tôi sợ lắm. Nhưng tôi cố lạnh lùng, cố mặc kệ, cố làm ra vẻ can đảm. Mỗi lần bánh xe đạp chạm đến con đường lớn, nghĩa là thoát ra khỏi con hẻm im lìm ấy, tôi cảm thấy nhẹ nhõm chút ít. Những con đường nhựa to lớn của phố phường có vẻ như cởi mở hơn, thức dậy sớm hơn những con hẻm nhỏ lầm lỳ. Đèn đường vui hơn, sáng hơn, nhiều hơn, và đã có nhiều người dậy sớm như tôi. Ngoài chiếc xe đạp của tôi, còn có nhiều chiếc xe khác cũng đang lọc cọc lạch cạch đồng hành, tạo thành những âm thanh đồng cảm, bất ngờ làm cho mình đỡ cảm thấy cô đơn. Mười lăm phút đạp xe, về hướng Chợ Mới. Từ xa xa, tôi đã có thể nhìn thấy nhốn nháo những người đang đứng chờ trước cửa lò nấu sữa đậu nành, nơi cung cấp sữa cho những người bán lẻ trong vùng. Họ đứng co ro trong bầu không khí “xé xương xé thịt”, ai cũng thọt hai tay vào túi áo cho ấm. Tôi dừng xe đạp, chờ tới lượt mình. Họ đều là những người lớn, chỉ có mình tôi là con nít. Chúng tôi gặp nhau thường ngày trong lặng lẽ, mỗi ngày vài phút, riết rồi quen mặt nhau. Ở đây, vào lúc trời còn chưa sáng, những ánh mắt dường như vẫn còn thèm ngủ, thỉnh thoảng chỉ thoáng nhìn nhau vài giây mơ hồ, rồi uể oải quay mặt đi. Họ chỉ nhìn thoáng qua vậy thôi, chứ ít khi mở miệng trao đổi với nhau điều gì. Nhất là những hôm trời lạnh ngắt như thế này, không ai dám khờ khạo hở răng cho cái lạnh chạy tọt vào bên trong môi miệng.

Hơi bất ngờ, hôm nay, một trong những ánh mắt ấy quay qua nhìn tôi, thân thiện nói: “Lạnh quá con hỉ. Lạnh như ri mà con cũng đi lấy sữa hả!” Tôi mỉm cười nhè nhẹ, và "dạ" một tiếng lạnh ngắt. Ánh mắt ấy lại nhìn tôi chăm chú hơn, tò mò hơn, và hỏi tôi đúng cái câu hỏi mà tôi ghét nhất: “Cha con đâu? Răng cha không đi lấy sữa cho con?”
Tôi ngàn lần cay đắng với những câu hỏi đại loại như vậy. Tôi cố kìm chế để khỏi quạu quọ. Tôi nín lặng, không trả lời. Nhưng ánh mắt mộc mạc ấy lại tỏ ra rất ân cần, có vẻ như từ lâu đã muốn hỏi tôi câu hỏi ấy và thật sự đã từ lâu muốn chia xẻ câu trả lời của tôi như một người họ hàng thân thuộc. Người ấy lặp lại câu hỏi một lần nữa, lần này bằng giọng nói nhẹ nhàng, dè dặt, như thể muốn trấn an những ái ngại có thể có trong tôi. Tôi bất chợt buông một câu trả lời khô khan như một cái máy ghi âm, cốt là để cắt đứt phiền hà, cắt bỏ những phiền muộn giây giưa có thể tái hiện trong tôi: “Con không có cha.” Rồi tôi lạnh lùng quay mặt đi. Tôi bước nhanh tới chỗ người bán sữa, nói thật to để xua đuổi cái lạnh trước mặt và những cái rắc rối còn lại sau lưng: “Cho con lấy 10 lít chú ơi.”

Tôi tưởng thái độ quay mặt đi một cách dứt khoát như vậy là lẩn trốn được mọi giây giưa với câu chuyện “không có cha” phiền toái kia. Nhưng không, tôi nghe một nỗi buồn lạnh ngắt đang chui rúc vào bên trong những lớp áo, lục lọi trong da thịt tôi, khiến tôi rùng mình. Tôi muốn khóc, nhưng tôi không khóc. Tôi không khóc. Tôi không khóc.

“Tôi không có cha”. Nói vậy, nghe giống như tôi là một đứa con rơi, và chẳng khác nào là một cách nói xúc phạm mẹ tôi. Không, tôi không phải là một đứa con rơi, và mẹ tôi không phải là một người phụ nữ không chồng. Tôi tôn trọng mẹ tôi lắm. Tôi thương mẹ tôi lắm. Và dĩ nhiên tôi cũng thương tôi lắm. Nhưng không phải vì vậy mà mỗi lần có ai hỏi tôi câu hỏi tương tự, “cha mày đâu?”, tôi có thể tự ngăn cản mình đừng lặp lại câu trả lời tương tự: “Tôi không có cha”.
Sở dĩ tôi buộc phải trả lời như vậy, vì cách trả lời ấy dễ dàng chấm dứt những câu hỏi dằng dai tiếp theo của người đang định hỏi. Dĩ nhiên, tuy vậy, tôi cũng thừa biết, rằng cách trả lời "đoạn tuyệt" ấy cũng không thể chấm dứt ngay những đau đớn vốn dằng co trong lòng mình bao biết lâu nay. Cơn đau ấy, tôi chỉ muốn quên đi, tôi chỉ mong đừng ai nhắc đến để mình đừng nhớ tới. Đừng nhớ tới người cha đau đớn ấy.
Lúc ấy tôi mới 3 tuổi. Tôi đâu có biết hoàn cảnh khắc nghiệt như thế nào mà cha mẹ tôi đã phải ly hôn đâu. Tôi đâu có biết lúc ấy cha tôi có suy nghĩ đầy đủ về tương lai của đứa bé 3 tuổi của cha hay không đâu. Tôi đâu có biết cha tôi có dự đoán gì về tâm hồn đứa bé ấy rồi sẽ rạn nứt ra sao sau chuyện ly hôn đâu. Tôi đâu có thể lên tiếng nêu ý kiến can thiệp về việc ly hôn của cha mẹ tôi đâu. Tôi đã dĩ nhiên là đứa bé hoàn toàn bị động. Tôi đã từ đó vắng cha. Tôi đã từ đó mất đi tình yêu bình thường của cha của mẹ dành cho con cái. Tôi đã từ đó mất đi sinh hoạt bình thường trong gia đình mà những đứa trẻ bình thường đều có. Tôi đã từ đó vắng cha. Tôi đã từ đó thêm bơ vơ mà không thể nói. Lúc ấy tôi mới 3 tuổi. Tôi đã từ đó vắng cha.

Từ ngày ấy, tôi hiếm khi nhận được những ánh mắt công bằng của xã hội, những tình yêu dung dị và nguyên vẹn của bà con họ hàng. Tôi bắt đầu bắt gặp những ánh mắt bất thường nhìn tôi của những người chung quanh. Họ làm như thể họ đang đứng trên bệ cao của cuộc đời, nhìn xuống tôi với ánh mắt thương hại, họ ban phát cho tôi loại tình thương của những người “cấp trên”, của những kẻ giàu lòng nhân ái. Tôi nhiều lần đọc thấy trong đáy lòng họ, họ cũng không khác gì cha tôi, cũng cao ngạo, cũng ích kỷ, cũng hẹp hòi, cũng hèn yếu, cũng tầm thường, chỉ có khác chút ít là số phận họ gặp nhiều may mắn hơn cha tôi thôi.

Tôi không được cha tôi yêu thương như tôi cần được cha mình yêu thương. Tôi không lên án cha tôi, cũng không bào chữa cho cha tôi. Tôi không hận cha tôi, cũng không thương yêu cha tôi như tôi thèm khát yêu thương. Mọi chuyện đáng tiếc đã xảy ra, không thể hàn gắn mà không có tỳ vết. Tôi buộc phải chấp nhận cái số phận đã được đặt định trước như vậy cho tôi. Tôi không thể từ chối cái quá khứ do những người khác đã áp đặt rồi cho tôi. Cuộc đời tôi đã được vụng về - quá vụng về - vẽ nên một cách bất công vào một thời điểm bất ổn, bởi một hóa công bất toàn. Tôi cay đắng tìm khuây khỏa trong đời bằng cách gần gũi và thương yêu những thân phận con người méo mó tương tự như tôi. Tôi cảm thấy an ủi khi biết mình không phải là trường hợp duy nhất, mà là trường hợp của số đông thân phận đồng bào. Tôi không trách riêng cha tôi. Nhưng tôi nghĩ ngợi và buồn nhiều về người đời, trong đó có cha tôi.

Người đời trong đó có cha tôi thường né tránh trách nhiệm và đổ lỗi sơ sài cho sự khó khăn của "hoàn cảnh khách quan". Trong hầu hết các trường hợp, chính họ đáng lẽ có thể giúp ngăn cản những hệ lụy cho những người trực tiếp phụ thuộc họ, con cháu họ, em út của họ. Chính họ đáng lẽ phải mở rộng lòng mình sao cho bao dung hơn, chính họ đáng lẽ phải chấm dứt ảo tưởng mình là nhân vật quan trọng, cao lớn hơn người, chính họ đáng lẽ phải khiêm tốn, phải biết nhún nhường, phải can đảm nhận trách nhiệm bảo vệ hạnh phúc gia đình, bảo vệ quyền lợi tự nhiên của những người trực tiếp phụ thuộc họ. Họ đáng lẽ phải thường xuyên giữ gìn tấm lòng độ lượng thật sự trong lòng, để họ có thể giúp cho ít nhất là vài cuộc đời phụ thuộc họ đỡ phải đau đớn vì họ. Nhưng họ đã không nâng niu tấm lòng vị tha bình thường của một con người bình thường, không giữ gìn trái tim bao dung bình thường của một con người bình thường. Họ đã sống quá cẩu thả, quá dễ dãi với chính mình nhưng lại khắc khe khi đòi hỏi người khác phục tòng mình. Họ đã suy nghĩ quá ích kỷ, họ đã hành xử vô trách nhiệm, gây ra những đổ vỡ dây chuyền cho bao câu chuyện đời nối tiếp về sau.

Sau này, tôi chỉ nghe mẹ tôi đơn sơ kể lại rằng, gia đình tôi từ đó suy sụp mọi bề, cả tình cảm, vật chất lẫn tinh thần. Mẹ tôi ẳm tôi về quê ngoại nương náu qua ngày, sống như bản năng phải sống, và yêu tôi thật nhiều để cân bằng cho bao nỗi hận đời.
Hận đời? Nhưng cuộc đời miên man mênh mông, nếu mãi ôm đời mà hận, thì đời chẳng hề hấn gì, mà riêng mình thì cứ thêm mãi âm u. Hận người? Nhưng người đời sân si mê mang, nếu mãi ôm ghì lòng mình mà hận người đời, thì cõi người chẳng nhúc nhích lay chuyển gì, mà riêng tâm hồn mình thì mỗi ngày mỗi thêm tổn thương vì phiền muộn kéo dài.

Mẹ tôi kể lại những tháng ngày trằn trọc trôi qua như vậy. Mẹ nói, rồi một hôm chợt tỉnh thức, mẹ tôi vùng dậy, bắt đầu học cách đối đãi thản nhiên với vạn mối vui buồn. Thản nhiên với vạn mối vui buồn, nghĩa là thôi không quỵ lụy khóc lóc với đớn đau, cũng thôi không hớn hở reo hò với ân huệ. Mọi thứ đến đây, mọi điều qua đó, tất cả mẹ tôi đều ngang bằng đón nhận, không thiên lệch khen chê. Không nhìn qua ngó lại bên ngoài nữa, chỉ nhìn vào bên trong lòng mình. Sống sao cho hợp "lẽ phải" là lòng bình yên. Từ trạng thái cân bằng trong tinh thần ấy, mẹ tôi mau chóng thích nghi với những mưa nắng ngược đãi chung quanh. Mẹ tôi tươi cười khi thức khuya dậy sớm, không nề hà gánh vác nhọc nhằn giữa mưa nắng sớm chiều, cũng chẳng còn thì giờ để bận lòng so đo với những lời dị nghị to nhỏ chung quanh. Mẹ tôi không nói ra, nhưng tôi biết mẹ tôi thầm lặng tập trung mọi thứ cho tôi, xem tôi là tất cả buồn vui của mẹ, là tất cả ý nghĩa cuộc đời của mẹ. Những gì tôi vắn tắt nói ra đây, là những gì tôi tự đọc được khi sống gắn bó nhọc nhằn bao năm bên cạnh mẹ tôi.

Sáng hôm ấy, khi tôi đạp xe về tới nhà cùng với 10 lít sữa, mẹ tôi đã chuẩn bị xong những loại thức ăn khác. Tôi giúp mẹ tôi che dù, căng bạt, dọn bàn ghế, chén bát, ..., đủ thứ, để bày bán. Ở đầu con hẻm nhỏ ấy, người ta đã quen với hình ảnh đơn chiếc của hai mẹ con chúng tôi, và không lấy làm phiền hà gì những tiếng khua động rộn ràng mỗi sáng của chúng tôi. Mẹ tôi nói:

- Thôi được rồi con. Để đó cho mẹ. Con vô nhà ăn uống rồi chuẩn bị đi học đi con. Đồ ăn mẹ để sẵn trên bàn đó.

Tôi quay vào nhà. Như một "phần mềm" đã được lập trình sẵn để vận hành mỗi ngày, tôi vừa đi vừa ôn lại vài chi tiết nòng cốt trong những bài học đã học đêm qua, vừa thoáng mường tượng về những gì có thể sắp xảy ra hôm nay ở lớp.

Còn một mình mẹ tôi ngồi lại ở giữa một cái “quán cóc” tại một ngã ba đường đầu hẻm. Mẹ tôi im lặng nghe ngóng những bước chân người đang bắt đầu đi ra đường. Mẹ tôi chào đón những khách hàng quen thuộc đầu tiên ghé vào chọn món ăn thức uống. Mẹ tôi thao tác nhuần nhuyễn và nhanh nhẹn như một cái máy. Mẹ tôi vận động cả tay chân và đầu óc một cách tự nhiên. Mẹ tôi vừa niềm nở với mọi người, vừa ân cần với nhân cách của chính mình. Mẹ tôi thầm lặng mong chờ những hôm nay trôi qua bình yên. Mẹ tôi tin tưởng những ngày mai ấm áp chẳng bao lâu nữa sẽ đến với gia đình của mẹ.

Vạn vật chuyển động. Trời đã sáng. Sương trắng mỏng dần. Chùm nắng đầu tiên đã xuất hiện trên ngọn cây cao. Bầu không khí đã bắt đầu ấm áp. Cùng tiếng cười và giọng nói trong trẻo, những gương mặt tinh khôi trong màu áo trắng học trò đang rộn ràng ôm sách vở bước vào tương lai.


NGUYEN QUANG THANH
(11 - 2013)

Bài & ảnh của
NGUYEN QUANG THANH
Chúng Tôi,
Tuổi Thơ Không Thể Nói
Chúng Tôi, Tuổi Thơ Không Thể Nói
CHÚNG TÔI,
TUỔI THƠ KHÔNG THỂ NÓI


1. Ngọt Ngào Ấu Thơ
2. Ác Mộng Ấu Thơ
3. Người Cha Vắng Mặt
Người Cha Vắng Mặt
Khảo Luận Về Bùi Giáng và Trịnh Công Sơn  -  Nguyen Quang Thanh biên soạn
Website: www.nguyenquangthanh.com  -  tác giả tự trình bày
BÙI GIÁNG & TRỊNH CÔNG SƠN


NGƯỜI CHA VẮNG MẶT


Bốn giờ sáng một ngày mùa Đông. Bầu trời lạnh lắm. Nằm trên giường nệm, quấn mền hai ba lớp mà vẫn thấy lạnh. Lạnh tới nỗi không dám nhúc nhích, không dám ló đầu ra khỏi mền. Vậy mà mẹ tôi đã lục đục thức dậy tự bao giờ. Và mặc dù biết giấc ngủ của con chưa tròn, nhưng mẹ tôi vẫn thức tôi dậy. Mẹ tôi lắc nhẹ người tôi mấy cái, kêu tôi nho nhỏ: “Con, con ơi, dậy đi con”. Tôi “dạ” một tiếng yếu ớt đến nỗi chưa thành tiếng, cố chế ngự cái lạnh, nhè nhẹ đẩy mền ra một bên. Tôi chậm chạp cầm những cuốn tập "hình-học-đại-số" mà đêm qua đã cùng với tôi ngủ quên trên giường, rồi chui ra khỏi mùng. Tôi luôn tiện xếp những cuốn tập ấy vào cặp, để lát nữa đi học cho tiện, khỏi phải lụp chụp nữa.

Khi tôi đánh răng rửa mặt xong, mẹ tôi đã chuẩn bị cho tôi hai cái giỏ nhựa, móc sẵn lên hai bên gi-đông chiếc xe đạp. Tôi quấn thêm một cái khăn len quanh cổ, mang vớ, đội một cái mũ len trùm kín hai mang tai. Mẹ tôi đưa thêm cho tôi cái áo mưa.

Tôi nói: “Trời đâu có mưa đâu mẹ.”
Mẹ tôi nói: “Không mưa nhưng mặc thêm cho ấm đi con. Ngoài trời lạnh lắm.”
Tôi hỏi: “Bữa ni lấy mấy lít mẹ?”
Mẹ tôi nói: “10 lít. Trời lạnh ni bán sữa nóng được lắm đó con.”
Tôi nói: “Hôm qua bán hết sớm không mẹ?”
Mẹ tôi nói: “Hôm qua 8 lít mà bán tới 9 giờ hết rồi.”

Mẹ tôi mở cửa. Tôi mạnh dạn đạp xe lao vào giữa cái buốt lạnh của sương đêm. Tôi cố ý vận động mạnh mẽ để đỡ lạnh. Tôi co ro chạy xe thuộc lòng giữa con hẻm nhỏ ngoằn nghèo, trong cái ánh sáng lờ mờ của những bóng đèn đường hiu hắt từ trên cao rọi xuống. Chung quanh, mọi nhà đều đóng cửa, mọi người còn ngủ yên. Con hẻm im phăng phắc, phủ đầy sương trắng. Mỗi mét đường xe tôi đi qua là mỗi mét không gian xe tôi khua động. Tôi mạnh mẽ đạp xe, âm thầm nghe theo mệnh lệnh tự nhiên thôi thúc trong lòng.

Tôi, một đứa bé mong manh, chỉ mới 12 tuổi. Nhưng mẹ tôi đơn độc lắm, trong giai đoạn này chỉ có thể trông cậy vào tôi mà thôi, nên tôi phải cùng mẹ tôi làm việc kiếm sống qua ngày. Tôi phải chia xẻ những gian nan hằng ngày với mẹ. Tôi là niềm hy vọng duy nhất để giúp hai mẹ con thoát ra khỏi hoàn cảnh gian nan này. Bằng sự kiên nhẫn, mẹ tôi thỉnh thoảng khuyên tôi, rằng tôi phải vừa làm việc, vừa đi học cho tới nơi tới chốn. Tôi phải thoát ra khỏi cảnh lam lũ cho tôi trước, rồi sau đó mới có thể giúp mẹ. Tôi ôn đi ôn lại dòng suy nghĩ ấy mỗi lần đối diện với một loại chướng ngại gì đó có thể làm mình nao núng.